22-5-2012
INCOTERMS 2000 : Những sửa đổi bổ sung (3/28/2008 9:20:48 PM)

Sau hai năm thảo luận, lấy ư kiến đóng góp rộng răi trong giới kinh doanh quốc tế, ngày 24 tháng 9 năm 1999 Pḥng Thương mại quốc tế (ICC) đă thông qua bản Incoterms (các điều kiện thương mại qyuốc tế) mới - INCOTERMS 2000,

GS,TS Hoàng Châu , Đ.H. Ngoại Thương

GS.TS Hoàng Châu- ĐHNT 

Sau hai năm thảo luận, lấy ư kiến đóng góp rộng răi trong giới kinh doanh quốc tế, ngày 24 tháng 9 năm 1999 Pḥng Thương mại quốc tế (ICC) đă thông qua bản Incoterms (các điều kiện thương mại qyuốc tế) mới - INCOTERMS 2000, có hiệu lực từ ngày 1-1-2000. Incoterms - Quy tắc chính thức của ICC giải thích các điều kiện thương mại quốc tế đă được ICC phát hành lần đầu tiên vào năm 1936 và đă được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990.

 

1- TẠI SAO PHẢI SỬA ĐỔI INCOTERMS?

       Lư do chủ yếu của việc sửa đổi Incoterms là để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn thương mại quốc tế. Trong lần sửa  đổi năm 1980, người ta đă đưa vào một điều kiện mới - điều kiện FCA, nhằm giải quyết một vấn đề thực tế thường xảy ra là khi mua bán hàng hoá đóng trong các container (trong buôn bán đường biển) th́ điểm phân chia rủi ro, trách nhiệm, chi phí (critical point) giữa người bán và người mua không c̣n là điểm FOB truyền thống (lan can tàu) mà là một điểm khác ở trên bờ (CY hoặc CFS), nơi container được giao nhận hay đóng gói để vận chuyển bằng đường biển hay phương thức vận chuyển khác. Hay như trong Incoterms 1990 đă có điều khoản cho phép người bán cung cấp bằng chứng giao hàng bằng một thư truyền dữ liệu điện tử (EDI messages) thay cho chứng từ bằng giấy để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin.

 

      Lư do thứ hai của việc sửa đổi Incoterms lần này là để khắc phục một số bất hợp lư và đảm bảo cho Incoterms một ngôn ngữ rơ ràng, chính xác và nhất quán nhằm tránh những tranh chấp và những hiểu lầm không đáng có. Trong Incoterms 2000, nhóm soạn thảo đă cố gắng sử dụng những thuật ngữ và cách nói thống nhất trong cả 13 điều kiện, tránh dùng các thuật ngữ khác nhau để diễn đạt cùng một ư và khi có the, th́ dùng các thuật ngữ và cách nói đă sử dụng trong Công ước về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế (CISG) 1980.

 

       Incoterms 2000 cũng đă tính đến sự phát triển mạnh mẽ của các khu vực phi thuế quan, của việc sử dụng thông tin bằng điện tử trong thương mại và những thay đổi trong thực tiễn vận tải nhằm tạo ra một bản Incoterms mới, đơn giản và rơ ràng, phản ánh những thay đổi mới nhất trong môi trường thương mại quốc tế. Tất cả những sửa đổi hay thay đổi, dù về h́nh thức, ngôn từ hay nội dung đều được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và có tính đến những ư kiến, đề xuất của những người sử dụng Incoterms trên toàn thế giới.

 

2- NHỮNG SỬA ĐỔI, THAY ĐỔI Ở INCOTERMS 2000:

      So với Incoterms 1990, Incoterms 2000 không có nhiều thay đổi lớn. Điều này được giải thích là do Incoterms hiện hành đă được giới kinh doanh rộng răi trên thế giới thừa nhận và do đó, Pḥong Thương mại Quốc tế chỉ tập trung để hoàn thiện những điều đă được thừa nhận, cố gắng tránh những thay đổi không cần thiết. V́ vậy, Incoterms 2000 vẫn giữ nguyên 13 điều kiện như Incoterms 1990 nhưng ở tất cả 13 điều kiện đều có sửa đổi về cách tŕnh bày và lời văn đồng thời có những thay đổi lớn về nội dung ở 3 điều kiện FCA, FAS và DEQ.

 

     Thay đổi lớn nhất trong Incoterms 2000 là những quy định vềà nghĩa vụ thông quan  theo các điều kiện FAS và DEQ và việc giao hàng, nghĩa vụ xếp, dỡ hàng theo điều kiện FCA.

      Nghĩa vụ thông quan (Customs Clearance), theo giải thích của Incoterms 2000, không chỉ gồm việc thanh toán thuế hải quan và các chi phí khác  mà c̣n bao gồm việc thực hiện và giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến việc đưa hàng hoá vào hay ra qua hải quan, kể cả các thông tin đến các cơ quan chức trách. Trong Incoterms 1990, nghĩa vụ thông quan đối với hàng xuất khẩu thuộc người mua theo điều kiện FAS và đối với hàng nhập khẩu th́  thuộc người bán theo điều kiện DEQ. Nay, trong Incoterms 2000, nghĩa vụ này đă được quy định ngược lại: Theo điều kiện FAS, người bán phải chịu rủi ro và chi phí để lấy giấy phép xuất khẩu và làm các thủ tục hải quan cần thiết cho việc xuất khẩu, c̣n theo điều kiện DEQ th́ người mua phải chịu rủi ro và chi phí để lấy giấy phép nhập khẩu và làm thủ tục hải quan cần thiết cho việc nhập khẩu. Điều này hợp lư hơn v́ FAS là giao hàng tại cảng gửi c̣n DEQ là giao hàng tại cảng đến.

 

       Một thay đổi đáng kể nữa có liên quan đến nghĩa vụ giao hàng và xếp dỡ hàng hoá theo điều kiện FCA. Điều kiện FCA trong Incoterms 2000 quy định người bán phải giao hàng cho người chuyên chở hoặc một người khác do người mua chỉ định hay do người bán lựa chọn, tại địa điểm quy định, vào ngày hay trong thời gian giao hàng thỏa thuận. Việc giao hàng sẽ hoàn tất khi hàng hóa được xếp lên phương tiện vận tải của người chuyên chở do người mua chỉ định, nếu địa điểm giao hàng là một cơ sở của người bán hoặc khi đặt hàng hoá dưới sự định đoạt của người chuyên chở, nếu nơi giao hàng là một nơi khác. Như vậy, nếu địa điểm giao hàng là một cơ sở của người bán (Seller’s Premises) th́ người bán phải chịu cả chi phí xếp hàng lên phương tiện vận tải của người mua, c̣n nếu địa điểm giao hàng là một nơi khác th́ người bán chỉ chịu chi phí cho đến khi đă đặt hàng hoá dưới sự định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải của ḿnh, mà không phải trả chi phí dỡ hàng xuống. Incoterms 2000 không hề đề cập đến việc giao nhận, vận chuyển theo các phương thức vận tải khác nhau như trong Incoterms 1990.

 

Cấu trúc của Incoterms:

       Để cho dễ hiểu, Incoterms 2000 vẫn giữ nguyên cấu trúc thành 4 nhóm điều kiện (E, F, C, D) theo hướng tăng trách nhiệm, nghĩa vụ của người bán như Incoterms 1990. Nhóm E gọi là nhóm xuất phát (Departure) chỉ gồm một điều kiện EXW, trong đó người bán chỉ cần chuẩn bị sẵn sàng hàng hoá để giao cho người mua tại cơ sở của ḿnh. Nhóm F gọi là nhóm chưa trả cước phí vận tải  (Main Carriage Unpaid) gồm các điều kiện FCA, FAS, FOB, theo đó người bán phải giao hàng cho người chuyên chở do người mua chỉ định. Tiếp theo là nhóm C gọi là nhóm đă trả cước phí vận tải (Main Carriage Paid) gồm các điều kiện CFR, CIF, CPT, CIP theo đó người bán phải kư hợp đồng vận tải nhưng không chịu rủi ro về mất mát, hư hỏng của hàng hóa và các chi phí phụ thêm do các sự cố xẩy ra sau khi giao hàng. Cuối cùng là nhóm D gọi là nhóm đến (Arrival) gồm các điều kiện DAF, DES, DEQ, DDU, DDP theo đó người bán phải chịu tất cả chi phí và rủi ro để đưa hàng hoá đến nơi đến quy định. Trong tất cả các điều kiện, nghĩa vụ của các bên (người bán và người mua) đều được nhóm thành 10 tiêu đề, trong đó mỗi nghĩa vụ của người bán (A) đều được “phản chiếu” bởi nghĩa vụ của người mua (B) về cùng một vấn đề.

 

Sửa đổi trong từng nhóm điều kiện:

a- Điều kiện EXW: Theo điều kiện này, người bán hoàn thành nghĩa vụ của ḿnh khi đặt hàng hoá dưới sự định đoạt của người mua tại một địa điểm thỏa thuận, thông thường là một cơ sở của người bán. Incoterms 2000 khảng định thêm việc người bán không có nghĩa vụ xếp hàng lên phương tiện vận tải của người mua. Nếu người mua muốn người bán xếp hàng lên phương tiện vận tải của ḿnh th́ phải ghi rơ trong hợp đồng mua bán.

 

b- Các điều kiện thuộc nhóm F: Theo các điều kiện thuộc nhóm này, người bán phải giao hàng cho người vận tải do người mua chỉ định. Người bán sẽ hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi đă xếp hàng lên phương tiện vận tải của người mua nếu địa điểm giao hàng là cơ sở của người bán, hoặc khi đă đặt hàng hóa dưới sự định đoạt của người mua nếu địa điểm giao hàng là một nơi khác. Tuy nhiên, điểm tới hạn (critical point) theo điều kiện FOB trong Incoterms 2000 vẫn không thay đổi mặc dù đă có sự tranh luận khá gay gắt. Người ta cho rằng “hàng qua lan can tàu” theo điều kiện FOB ngày nay là không thích hợp nữa, nhưng nói chung các thương nhân vẫn hiểu và vẫn được áp dụng thích hợp đối với một số hàng hoá và đặt biệt trong trường hợp hàng được vận chuyển theo hợp đồng thuê tàu. Tuy nhiên, cần lưu ư các thương nhân rằng điều kiện FOB chỉ nên dùng trong vận tải đường biển hay vận tải đường thuỷ nội địa để thể hiện đúng nghĩa viết tắt của nó là “giao hàng lên tàu”, chứ không nên dùng các biến dạng của FOB như “FOB factory”, “FOB plant” hay “FOB Ex seller’s works”khi vận chuyển bằng các phương thức vận tải khác.

Điều kiện FAS có một số thay đổi quan trọng đă nói ở trên.

 

c- Các điều kiện thuộc nhóm C:

       Các điều kiện thuộc nhóm C đ̣i hỏi người bán phải kư hợp đồng vận tải theo những điều kiện thông thường và phải chịu chi phí để vận chuyển hàng hóa đến nơi đến quy định. V́ vậy, ngay sau các điều kiện này phải ghi rơ nơi đến quy định. Theo điều kiện CIF và CIP người bán c̣n phải mua bảo hiểm và chịu chi phí bảo hiểm cho hàng. Do địa điểm phân chia chi phí trong các điều kiện thuộc nhóm C là một địa điểm ở nước đến nên nhiều người lầm tưởng rằng hợp đồng mua bán theo các điều kiện thuộc nhóm C là “hợp đồng đến” (arrival contracts), theo đó người bán phải chịu mọi rủi ro và chi phí cho đến khi hàng hoá thực sự đến nơi đến quy định. Tuy nhiên, cần lưu ư rằng các điều kiện thuộc nhóm C về bản chất cũng giống các điều kiện thuộc nhóm F, tức là người bán đă hoàn thành nghĩa vụ của ḿnh tại nước gửi hàng. Do vậy, hợp đồng mua bán theo các điều kiện thuộc nhóm C cũng giống như  hợp đồng theo các điều kiện thuộc nhóm F đều là “hợp đồng đi” (shipment contracts). Mà, bản chất của “hợp đồng đi” là người bán phải trả chi phí vận tải hàng hoá theo tuyến đường và cách thức thông thường đến nơi đến quy định, c̣n người mua phải chịu rủi ro về mất mát, hư hỏng của hàng hoá cũng như các chi phí phụ thêm phát sinh tù những sự cố xẩy ra sau khi hàng hoá đă được giao để vận chuyển một cách thích hợp. Các điều kiện thuộc nhóm C khác các điều kiện khác ở chỗ là chúng có hai điểm tới hạn: một điểm chỉ rơ trách nhiệm và chi phí vận tải mà người bán phải chịu (nơi đến) và một điểm phân chia rủi ro giữa người bán và người mua  (nơi đi). Trong trường hợp phải chuyển tải để đưa hàng đến cảng đích, người bán vẫn phải chịu chi phí chuyển tải. Tuy nhiên, những chí phí phát sinh do tránh những hiện tượng, như băng đá, ùn tàu, rối loạn lao động, lệnh của chính phủ hay chiến tranh … th́ người mua phải chịu v́ người bán chỉ có nghĩa vụ kư kết một hợp đồng vận tải thông thường. Điều kiện CFR và CIF có một sự thay đổi so với Incoterms 1990 liên quan đến nghĩa vụ cung cấp hợp đồng thuê tàu cho người mua. Nghĩa vụ này của người bán trong Incoterms 2000 đă bị loại bỏ v́ trong thực tế nghĩa vụ này thường gây khó khăn cho người bán khi thanh toán bằng tín  dụng chứng từ. Điều này gây bất lợi cho người mua CIF và CFR v́ họ không biết người bán sẽ thuê con tàu như thế nào. V́ vậy, khi nhập khẩu theo điều kiện CIF hay CFR người mua phải quy định một cách chi tiết về con tàu mà người bán phải thuê để đảm bảo chuyên chở an toàn hàng hoá. Về nghĩa vụ mua bảo hiểm, chỉ có hai điều kiện đề cập là điều kiện CIF và CIP. Theo hai điều kiện này, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá. Cần lưu ư rằng việc mua bảo hiểm của người bán theo hai điều kiện này là mua v́ lợi ích của người mua, v́ chính người mua phải chịu rủi ro trong quá tŕnh vận chuyển. Incoterms 2000 vẫn giữ nguyên nghĩa vụ mua bảo hiểm của người bán là mua theo điều kiện C. Nếu người mua muốn bảo hiểm theo điều kiện cao hơn hay bảo hiểm thêm rủi ro chiến tranh, đ́nh công, bạo động … th́ phải thoả thuận thêm trong hợp đồng.

 

d- Các điều kiện thuộc nhóm D:

      Các điều kiện thuộc nhóm D, về bản chất, khác hẳn các điều kiện thuộc nhóm C. Theo các điều kiện thuộc nhóm D, người bán phải chịu trách nhiệm đưa hàng hoá đến một địa điểm thoả thuận ở nơi đến tại biên giới hay trên lănh thổ của nước nhập khẩu. Người bán phải chịu rủi ro và chi phí để vận chuyển hàng hoá đến nơi đến, do đó hợp đồng theo các điều kiện thuộc nhóm D là “hợp đồng đến”.

     Theo các điều kiện DAF, DES, DEQ, DDU, người bán không c̣n có nghĩa vụ thông quan tại nước nhập khẩu. Đây là một điểm thay đổi so với Incoterms 1990, đặc biệt ở điều kiện DEQ. Theo điều kiện DEQ trong Incoterms 1990, người bán phải làm thủ tục hải quan và trả các chi phí liên quan cho việc nhập khẩu v́ sau khi hàng được dỡ lên cầu cảng, sẽ được đưa vào nước nhập khẩu. Nhưng do có sự thay đổi về thủ tục hải quan tại hầu hết các nước nên việc làn thủ tục hải quan nếu để cho người mua là người sở tại tiến hành th́ sẽ thuận tiện hơn. Riêng điều kiện DDP th́ người bán vẫn phải chịu trách nhiệm và chi phí thông quan cho hàng hoá tại nước nhập khẩu.

 

3- SỬ DỤNG INCOTERMS 2000 NHƯ THẾ NÀO?

       Incoterms là một bộ phận không thể thiếu của hợp đồng mua bán ngoại thương, bởi v́ nếu không sử dụng Incoterms th́ các bên phải tốn rất nhiều thời gian và giấy bút để quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên khi mua bán hàng hoá. Tuy vậy, Incoterms không phải là tất cả. Nhiều vấn đề không được Incoterms đề cập, như: việc chuyển quyền sở hữu hàng hoá, các chế tài về vi phạm hợp đồng, các trường hợp miễn trách, phương pháp giải quyết tranh chấp, luật lệ áp dụng … Khi sử dụng Incoterms, các doanh nghiệp cần lưu ư một số vấn đề sau đây:

 

a- Phải dẫn chiếu vào hợp đồng:

     Incoterms là một quy phạm pháp luật tuỳ ư, v́ vậy nếu các bên đồng ư áp dụng th́ phải dẫn chiếu một cách rơ ràng vào hợp đồng. V́ Incoterms đă qua nhiều lần sửa đổi nên phải ghi rơ là sử dụng Incoterms nào. Các hợp đồng kư kết sau ngày 1-1-2000, nên quy định sử dụng Incoterms 2000, ví dụ: FCA (Incoterms 2000).

 

b- Incotermsphải phù hợp với các phương thức vận tải sử dụng:

      Tuỳ thuộc vào các phương thức vận tải và công cụ vận tải sử dụng (có vận chuyển bằng container hay không) mà áp dụng các điều kiện thương mại cho thích hợp. Các doanh nghiệp Việt Nam nên sử dụng một số điều kiện thương mại quen thuộc và phổ biến, như sau:

      - Khi hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển hay đường thuỷ nội địa đối với các hàng rời, hàng đóng bao (không đóng trong container): sử dụng các điều kiện FOB, CFR, CIF;

     - Đối với hàng container vận chuyển bằng đường biển: sử dụng các điều kiện FCA, CPT hoặc CIP (nếu địa điểm giao hàng là CY, CFS hay ICD). Nếu sử dụng các điều kiện FOB, CFR hay CIF th́ người bán phải chịu ruỉ ro và chi phí cho đến khi container được cẩu qua lan can tàu.

     - Khi hàng hoá được vận chuyển bằng đường không nên sử dụng các điều kiện FCA, CPT hoặc CIP;

     - Khi hàng hoá được vận chuyển bằng đường sắt, bằng ô tô hay bằng vận tải đa phương thức: EXW, FCA, CPT, CIP, DAF, DDU, DDP.

       Khi dẫn chiếu điều kiện nào đó của Incoterms vào hợp đồng, cần ghi rơ địa điểm hay nơi giao hàng vào phía sau các điều kiện, chẳng hạn: FOB cảng Cửa Ḷ; FCA  ICD Gia Lâm … Nếu sử dụng các điều kiện thuộc nhóm C, phải ghi rơ cả nơi đi và cả nơi đến, ví dụ: CIF cảng gửi hàng là Kobe, cảng đến là Sai Gon; CIP cảng gửi hàng là Haiphong, nơi đến là Paris …

 

Xuất, nhập khẩu theo điều kiện nào th́ có lợi?

    Khi xuất khẩu các doanh nghiệp nên sử dụng các điều kiện CIF, CFR hoặc CPT hay CIP c̣n khi nhập khẩu nên sử dụng các điều kiện FOB hay FCA. Sử dụng các điều kiện này phía Việt Nam dành được quyền thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hoá trong quá tŕnh vận chuyển. Nếu các doanh nghiệp thuê tàu và mua bảo hiểm tại các công ty của Việt Nam th́ không những góp phần tạo công ăn, việc làm và điều kiện phát triển cho ngành vận tải và bảo hiểm nước nhà, hơn nữa việc giải quyết tranh chấp và đ̣i bồi thường cũng thuận tiện hơn. C̣n nếu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không muốn hay không thể thuê tàu và mua bảo hiểm tại các công ty cuả Việt Nam th́ các doanh nghiệp cũng có điều kiện lựa chọn các công ty vận tải và công ty bảo hiểm nước ngoài thích hợp và đáng tin cậy, có thể thuê những con tàu trẻ tuổi, đủ khả năng đi biển để vận chuyển an toàn hàng hoá, có thể thoả thuận những điều kiện, điều khoản trong hợp đồng vận tải có lợi cho ḿnh, đặc biệt là các điều khoản về giải quyết tranh chấp, luật lệ áp dụng … Trong thực tế đă xẩy ra nhiều trường hợp doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu theo điều kiện CIF hay CFR, theo đó người bán nước ngoài thuê tàu và họ đă thuê những con tàu già, tàu “ma” (tàu không chủ) hay chủ tàu đă phá sản, tàu không có bảo hiểm trách nhiệm … và hậu quả là tàu bị tai nạn hoặc không nhận được hàng vàø người mua Việt Nam phải chịu, v́ ruỉ ro về mất mát, hư hỏng cuả hàng hoá trong quá tŕnh vận chuyển đă chuyển sang người mua khi hàng đă đượcgiao tại cảng đi, ngay cả khi theo điều kiện CIF hay CIP.

 

Các tin liên quan
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 512
Số lượt khách đã truy cập: 5189890

Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)