Các loại hợp đồng giao dịch trên thị trường hàng hóa giao sau (3/28/2008 9:35:43 PM)
Các loại hợp đồng giao dịch trên thị trường hàng hóa giao sau
Thị trường giao sau (futures market)
là một thị trường tập trung có tổ chức rất cao,
chỉ mua bán các sản phẩm dẫn xuất từ thị trường hàng hóa thực là các hợp đồng
giao sau (HĐGS - futures contract).
Thị trường đã ra đời và phát triển cùng với phương thức giao dịch
thông qua các hợp đồng mua bán giao sau các loại hàng hoá thực. HĐGS được tiêu
chuẩn hóa: về số và chất lượng hàng hóa, nơi giao hàng, thể thức thanh toán, tỷ
lệ chiết khấu, tỷ lệ ký qũy bảo đảm thanh toán,… Nơi mua bán các HĐGS này người
ta quen gọi là sàn giao dịch (pit) hay sở giao dịch (exchange). Từ đây, người
ta thường dùng thuật ngữ thị trường hàng hóa giao sau hay thị trường giao sau
để ám chỉ sở giao dịch các HĐGS, bởi các hợp đồng giao sau chỉ được mua bán
trong các sở giao dịch mà thôi. Cũng chính bởi lý do chỉ mua bán các hợp đồng
giao sau tại sàn, hàng hóa cơ sở được giao nhận tại một nơi khác, nên nó có thể
xem như một cái chợ ảo.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, thị
trường giao sau ngày nay sở hữu khoảng 70% lưu lượng vốn toàn cầu vào – ra thị
trường hàng ngày. Có được sự tăng trưởng nhanh chóng vậy cũng cần phải kể đến
các dạng công cụ được giao dịch trên thị trường ngày càng phức tạp và tinh vi,
giúp người tham gia thị trường nhiều cơ hội kinh doanh và phòng chống rủi ro.
Các dạng hợp đồng chuyển giao rủi ro
Các dạng hợp đồng truyền thống được sử dụng trên thị trường hàng
hóa
là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá giao ngay (giá cả của
hàng hóa được mua bán trên thị trường ngay tại thời điểm này), nghĩa là việc
giao hàng và thanh toán chỉ có thể diễn ra trong vòng 1 hay 2 ngày (làm việc)
kể từ khi bản hợp đồng được ký kết.
Nghiệp vụ này thực hiện trên cơ sở giá giao ngay, tức là giá được
xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch. Chênh lệch giá mua và giá bán
của một hàng hóa dùng để bù đắp chi phí giao dịch và đạt một khoản lợi nhuận
hợp lý, nên nó cao hay thấp tùy thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức
độ biến động giá trị của hàng hóa đó trên thị trường. Để có thể so sánh với các
loại chi phí giao dịch khác, chênh lệch giá bán và giá mua thường được xác định
theo tỷ lệ phần trăm qua công thức sau:
Chênh lệch (%) = (giá bán - giá mua) * 100 / giá bán
là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá kỳ
hạn, nghĩa là việc giao hàng và thanh toán sẽ là một ngày nào đó được chỉ ra
trong tương lai, kể từ khi bản hợp đồng được ký kết (1 tuần, 1 tháng, 3 tháng,
6 tháng,...).
Giá kỳ hạn được tính dựa trên mức giá giao ngay và một số thông số
khác phỏng đoán về mức tăng giảm của giá cả hàng hóa này tính cho đến thời điểm
hàng sẽ thực sự được giao nhận. Với phương thức giao dịch này, người mua hàng
phải có đặt cọc (ký qũy) hoặc thế chấp một khoản tài sản nhất định để bảo đảm
cho việc thực hiện hợp đồng. Tiền ký qũy trong phạm vi tối thiểu theo thỏa
thuận và không được hưởng lãi nhưng người mua có thể được hưởng phần lợi tức
(trong trường hợp thế chấp tài sản tài chính) phát sinh từ tài sản thế chấp.
Với tư cách là công cụ phòng chống rủi ro, HĐKH được sử dụng để cố định khoản
thu nhập hay chi trả theo một mức giá cố định đã biết trước, bất chấp sự biến
động của giá trên thị trường.
là loại hợp đồng có sẵn những tiêu chuẩn về số lượng, phẩm cấp
hàng, chủng loại mặt hàng, điều kiện vận chuyển và giao nhận hàng,... tất cả
đều được sở giao dịch tiêu chuẩn hóa, vấn đề duy nhất phải thỏa thuận là giá
cả.
Giá cả sau khi được quyết định tại phiên giao dịch, gọi là giá
giao sau. Đó là mức giá được tính toán gần giống như giá giao trong tương lai.
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của loại hợp đồng này, hai bên mua bán không hề
có thêm bất kỳ thỏa thuận nào khác trừ giá cả. Nên hàng hóa mua bán theo loại
hợp đồng thường được qui định giao nhận hàng ở một vài thời điểm nhất định
trong năm mà thôi, khi đó giá giao sau sẽ là giá giao kỳ hạn với thời điểm kỳ
hạn chính là mốc đã định sẵn ở trên.
Thể thức này mới được sử dụng phổ biến từ những năm 60 – 70 thế kỷ
XIX trên thị trường hàng hóa và những năm 70 – 80 của thế kỷ XX trên thị trường
tiền tệ. Từ năm 2001, hầu hết các sàn giao dịch điện tử quốc tế đều thống nhất
các qui chuẩn chung của hợp đồng này, tuỳ theo hàng hóa cơ sở mua bán (gạo,
café, caosu, … vàng, bạc, platin,… USD, …) mà sẽ có những đặc tả chi tiết hàng
hóa riêng. Đây là công cụ chính cung cấp cho những nhà đầu cơ (speculator) một
phương tiện kinh doanh và những người ngại rủi ro (hedger) một phương tiện
phòng chống rủi ro.
So sánh hợp đồng có kỳ hạn và hợp đồng giao sau:
|
|
Hợp đồng kỳ hạn |
Hợp đồng giao sau |
|
Loại hợp đồng |
Một thỏa thuận giữa người mua và người bán. Điều khoản thỏa
thuận rất linh động. |
Được sở giao dịch tiêu chuẩn hóa những chi tiết trong hợp đồng. |
|
Thời hạn |
Các bên tham gia hợp đồng có thể lựa chọn bất kỳ thời hạn nào,
nhưng thường là bội số của 30 ngày. |
Chỉ có một vài thời hạn nhất định do sở giao dịch qui ước sẵn. |
|
Trị giá hợp đồng |
Nói chung rất lớn, trung bình > 1 triệu USD/ hợp đồng (theo
mức thế giới). |
Nhỏ đủ để thu hút nhiều người tham gia. |
|
Thỏa thuận an toàn |
Khách hàng phải duy trì số dư tối thiểu ở ngân hàng để bảo đảm
cho hợp đồng. |
Tất cả các nhà giao dịch phải duy trì tiền ký qũy theo tỷ lệ %
trị giá hợp đồng. |
|
Thanh toán tiền tệ |
Không thanh toán tiền tệ trước ngày hợp đồng đến hạn |
Thanh toán hàng ngày bằng cách trích tài khoản của bên thua và
ghi có vào tài khoản bên được. |
|
Thanh toán sau cùng |
Trên 90% hợp đồng được thanh toán khi đến hạn |
Chưa tới 2% hợp đồng được thanh toán khi đến hạn giao hàng,
thường thông qua đảo hợp đồng. |
|
Rủi ro |
Bởi vì không thanh toán hàng ngày nên rủi ro rất lớn có thể xảy
ra nếu như một bên tham gia hợp đồng thất bại trong việc thực hiện hợp đồng. |
Nhờ thanh toán hàng ngày thông qua phòng giao hóan nên ít rủi
ro. Tuy nhiên rủi ro cũng có thể xảy ra giữa môi giới và khách hàng. |
|
Yết giá |
Yết giá mua và giá bán với một mức độ chênh lệch giữa giá mua và
giá bán. |
Chênh lệch giá mua và giá bán được niêm yết ở sàn giao dịch. |
|
Hàng hóa giao dịch |
Tất cả các hàng hóa. |
Có thể sở giao dịch chỉ giới hạn trong một số loại hàng hóa nào
đó thôi. |
|
Giá cả |
Giá cả được khóa chặt trong suốt thời hạn hợp đồng. |
Giá cả thay đổi hàng ngày. |
|
Hoa hồng |
Trên cơ sở chênh lệch giữa giá bán và giá mua. |
Khách hàng chi trả hoa hồng cho môi giới. Môi giới và nhà giao
dịch (speculators) trả phí cho sở giao dịch |
|
Qui chế |
Các bên tham gia tự thỏa thuận. |
Được qui định bởi sở giao dịch. |
So sánh 3 dạng hợp đồng trên:
- Tính thanh khoản: dù HĐKH đã được đánh
giá là rất linh hoạt về phương diện thời hạn và số tiền giao dịch so với hợp
đồng giao ngay, nhưng nó lại hạn chế về mặt thanh khoản bởi vì các bên tham gia
hợp đồng không thể bán hợp đồng khi thấy có lời cũng không thể xóa bỏ hợp đồng
khi thấy bất lợi. Trong khi đó, HĐGS có tính thanh khoản cao nhất bởi vì sở
giao dịch sẵn sàng đứng ra “đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu.
Khi đảo hợp đồng, thì hợp đồng cũ bị xoá bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần
chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng. Điều này khiến cho hầu hết HĐGS đều
tất toán thông qua đảo hợp đồng, chỉ khoảng 1,5% HĐGS tại các sàn giao dịch
được thực hiện thông qua chuyển giao hàng vào ngày đến hạn theo hợp đồng.
- HĐGS sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có
giá trị nhỏ và cho phép các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất
kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn, vì thế nó dễ dàng thu hút nhiều
người tham gia. Ngược lại, HĐGS chỉ cung cấp giới hạn cho một số hàng hóa
và một vài ngày chuyển giao hàng trong năm mà thôi. Kế đến nó là hợp đồng bắt buộc
phải thực hiện khi đến hạn chứ không cho phép người ta được quyền tùy
chọn.
- Khả năng phòng chống rủi ro: HĐGS thực
sự là một công cụ đầu cơ, nhưng khả năng phòng chống rủi ro của nó còn hạn chế,
do chỉ cung cấp giới hạn cho một vài hàng hóa, và một vài ngày thanh toán trong
năm.
Các dạng hợp đồng quyền chọn (options contract)
Mặc dù hợp đồng kỳ hạn và HĐGS có thể sử dụng
để phòng ngừa rủi ro, nhưng vì tất cả những hợp đồng bắt buộc thực hiện khi đến
hạn nên nó cũng đánh mất đi cơ hội kinh doanh, nếu như sự biến động giá thuận
lợi. Đây là nhược điểm lớn nhất của hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau. Để
khắc phục nhược điểm này phát sinh một dạng hợp đồng mới là hợp đồng quyền lựa
chọn mua hay bán hàng hóa hay không khi đến hạn hợp đồng (gọi tắt là hợp đồng
quyền chọn - HĐQC).
HĐQC được đưa sử dụng vào những năm cuối của
thập niên 70 thế kỷ XIX. Tuy nhiên thị trường này phát triển nhanh chóng và
được vận dụng vào các giao dịch trên thị trường tài chánh, ngày một phổ biến
hơn vào những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX. Bước sang thế kỷ XXI, thị
trường các HĐQC (options market) là một trong những phân khúc thị trường
có tốc độ phát triển nhanh và chiếm doanh số giao dịch hàng ngày lớn nhất trên
thế giới. Nói chung, quyền chọn (options) là một hoạt động giao dịch mà cho
phép người mua nó có quyền mua (call option) hay quyền bán (put option) ở một
mức giá và thời hạn được xác định trước, nhưng không bắt buộc thực hiện quyền
này.
Hợp đồng lựa chọn kiểu 1
(American Options): cho phép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng ở
bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn.
Hợp đồng lựa chọn kiểu 2
(European Options): chỉ cho phép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng
khi đến hạn hợp đồng.
Giá trị của quyền chọn tùy thuộc vào giá cả
thực hiện (exercise or strike price) và sự biến động của giá cả hàng hóa trên
thị trường. Giá cả biến động có thể
làm cho quyền chọn trở nên sinh lợi (in-the-money), hòa vốn (at-the-money) hoặc
lỗ vốn (out-of-the-money).
Ví dụ, mua một call option European tháng 12/1998 cho 1.000 kg gạo
với giá thực hiện là 2.300 đồng/kg trị giá 5.000 đồng. Nếu đến tháng 12/1998 mà
giá gạo giao ngay trên thị trường là 2.400 đồng/kg tức là bạn có lãi, hoặc
ngược lại giá gạo chỉ là 2.200 đồng/kg thì bạn bị lỗ.
Có rất nhiều dạng options, nhưng sử dụng phổ biến có thể là dạng
futures options – quyền chọn lựa trong tương lai. Một cách biến thể của options
khác rất phổ biến là warrant – quyền tiên mãi, ký hóa phiếu.
là một dạng mua bán option dựa trên tiêu chuẩn của dạng hợp đồng
giao sau, mua bán option với tiêu chuẩn giao hàng theo hợp đồng giao sau. Khi
được thực hiện quyền của mình, người cầm giữ nó nhận một vị trí ngắn hạn hoặc
dài hạn trong hợp đồng giao sau mua bán hàng hóa nào đó mà hiệu lực chấm dứt
một tuần sau kỳ hạn ghi trên trên hợp đồng. Một khi hợp đồng option được thực
hiện và hợp đồng giao sau đã giao hàng, người cầm giữ có thể bán hợp đồng cho
sở giao dịch ở mức giá mà có thể mang lại cho người cầm giữ một mức lãi chính
xác như anh ta đã tin tưởng khi sử dụng thẳng option.
Việc giới thiệu dạng thức hợp đồng này là một bước quan trọng cung
cấp cho những nhà kinh doanh và những nhà đầu tư thêm một công cụ rất khác biệt
để giảm những rủi ro đi kèm trong thương mại và đầu tư quốc tế.
o Warrant:
Có hai dạng, một dạng đầu tiên gọi là ký hóa phiếu, xuất hiện từ
rất lâu trên thị trường hàng, sau này khi thị trường hàng hóa đi vào tập trung
thì phát triển thêm dạng một dạng khác gọi là quyền tiên mãi.
Ký hóa phiếu: là
một chứng thư xác nhận người chủ sở hữu chứng thư có hàng gửi tại kho – một nơi
lưu trữ uy tín nào đó – có xác nhận rõ trên chứng thư. Người chủ sở hữu của
chứng thư này có quyền bán chứng thư này cho bất kỳ một người nào có nhu cầu
muốn mua lượng hàng đang gửi tại kho hàng nói trên, với số lượng, chất lượng,
qui mẫu,… mà tờ ký hóa phiếu đặc tả. Nghĩa là, mọi thương nhân khi gửi hàng vào
kho, được nhà kho giao cho một ký hóa phiếu, thì người thương nhân này có toàn
quyền mua bán ký hóa. Và chứng thư này sẽ luân chuyển trao tay qua nhiều người
cho đến khi có người chủ thực sự cần lấy lượng hàng đó ra khỏi kho hàng, nhà
chủ kho sẽ giao hàng cho ai đưa ra đúng tờ chứng thư mà do chính kho của họ
phát hành.
Quyền tiên mãi: cũng là một chứng thư mà người nắm giữ chứng thư này sẽ được
quyền ưu tiên mua hàng – quyền tiên mãi - tại thời điểm chứng thư này có giá
trị thực hiện (hoặc vẫn còn giá trị thực hiện) bất kể điều kiện hàng hóa khan
hiếm hay giá cả biến động như thế nào. Quyền tiên mãi được sử dụng rất rộng rãi
trên thị trường đối với các mặt hàng dạng khai khoáng như vàng, bạc, bạch kim,…
và đôi khi được sử dụng kèm với việc phát hành các loại trái phiếu hàng hóa như
một điều kiện ưu tiên cho người nắm giữ trái phiếu được mua hàng. Sau này sự
vận dụng cơ chế giao dịch trên thị trường cổ phiếu rất phổ biến.
Các dạng hợp đồng giao dịch khác
Hợp đồng hoán đổi (Swaps Contract):
Hợp đồng hóan đổi hàng hóa là giao dịch đàm phán trực tiếp giữa
hai phía đối tác hay thông qua trung gian, đồng ý trao đổi một loạt những thanh
toán được tính trên những cơ sở khác: thanh toán giá cả hàng hóa với mức cố
định (fixed) được hóan đổi cho mức giá trôi nổi (floating), thanh toán dựa tên
chỉ số giá hàng hóa A thay bằng chỉ số giá hàng hóa B, mua hoặc bán hàng hóa A
thay bằng mua hoặc bán hàng hóa B và ngược lại, mua hàng ở mức giá cơ bản giao
ngay và bán lại hàng với mức giá kỳ hạn,... Những giao tác hóan đổi đã được xây
dựng theo những thể thức rất phong phú và khác biệt. Hai bên đối tác dàn xếp
một cuộc trao đổi với những nhu cầu bổ sung, và những kỳ hạn thanh toán được
đặt định.
Sử dụng hóan đổi như một công cụ ngừa rủi ro. Thông qua hợp đồng
hóan đổi, các bên tham gia có được hàng hóa hoặc mức giá mình mong muốn mà
không cần phải thông qua nhiều giao dịch trung gian nên tránh được sự biến động
giá và chênh lệch giữ giá bán và giá mua.
Sự khác biệt giữa các hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau là sử
dụng trong ngắn hạn, trong khi hợp đồng hóan đổi sử dụng trong dài hạn. Nhưng
ngày càng nhiều, hợp đồng hóan đổi cũng được sử dụng trong ngắn hạn, bổ sung
những hạn chế của các dạng hợp đồng với nhau, tạo ra sự cạnh tranh giữa chúng.
Các yếu tố cạnh tranh bao gồm sự năng động, chi phí và sự quen thuộc. Hợp đồng
hóan đổi hơn hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau ở yếu tố năng động nhưng thua
ở yếu tố quen thuộc sử dụng. Còn về chi phí, nhìn chung hợp đồng có kỳ hạn và
hợp đồng giao sau có ưu thế hơn, nhưng không lớn lắm.
Sử dụng hợp đồng hóan đổi để hạ thấp chi phí vốn thông qua phòng
ngừa rủi ro, do tận dụng những ưu thế tương đối, chênh lệch thuế khóa, việc
phát triển thị trường mới.
Hoán đổi có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài trợ và phòng ngừa rủi
ro, nó cho phép các công ty đột phá vào thị trường mới và tận dụng những ưu thế
của nó để gia tăng kinh doanh mà không phải gia tăng rủi ro kèm theo. Thông qua
hóan đổi, có thể chuyển rủi ro ở một thị trường hay ở một loại hàng hóa nào đó
sang thị trường khác, ở quốc gia khác mà hoạt động của chúng có liên quan đến
thị trường hàng hóa quốc tế.
Cũng tương tự như dạng options, theo cách thức giao dịch của
swaps, có nhiều dạng giao dịch tương tự phát sinh như dạng giao dịch hóan đổi
theo giá trần (caps), theo giá sàn (floors) hoặc vòng đai (collar).
Caps, Floors, and Collars:
Caps and floors dựa trên những giá cả hàng hóa hoặc những công cụ
tài chính khác tương tự những giao dịch hóan đổi, chỉ khác là giá cả hàng hóa
được cố định tại một mức tối đa (cap - giá trần) hoặc một mức tối thiểu (floor
- giá sàn).
Người bán một cap đồng ý trả người mua giá chênh lệch giữa giá
trần và một mức giá thả nổi, tôn trọng một số lượng danh nghĩa được đặc tả,
trong trao đổi để thanh toán phí.
Người bán một floor đồng ý trả người mua giá chênh lệch giữa giá
sàn và một mức giá thả nổi, tôn trọng một số lượng danh nghĩa được đặc tả,
trong trao đổi để thanh toán phí.
Một collar là một giao dịch trong đó một người mua một cap đồng
thời bán một floor cho người bán cap, bằng cách ấy chỉ là thanh toán phí của
cap.
Tất cả những hình thức giao dịch trên được sử dụng như những công
cụ trợ giúp hữu hiệu cho việc phòng chống những rủi ro trong kinh doanh trên
thị trường hàng hóa, và cũng có thể coi là những công cụ giúp giảm thiểu chi
phí vốn. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một giải pháp được đánh giá là có ưu thế nhất
trong công tác hỗ trợ vốn cho những nhà kinh doanh nói chung là việc phát hành
trái phiếu. Thông thường, sự biến động của giá cả một loại hàng hóa nào đó trên
thị trường sẽ luôn gây những bất ổn khác cho những kế hoạch kinh doanh đã được
đặt định. Song, đối với một số những sản phẩm hay phẩm vật có tính chất ưu thế
hơn tại mỗi địa phương nhất định, giá cả của chúng lại có thể được sử dụng như
một yếu tố cốt yếu trợ giúp nguồn lực tài chính cho nhà sản xuất - kinh doanh.
Các dạng trái khoán hàng hóa giúp giảm chi phí vốn (commodity –
indexed bonds, commodity warrant bonds)
Trái phiếu hay trái khoán hàng hóa có hai loại chính:
Dạng kỳ hạn, thường được gọi là trái
phiếu liên kết với hàng hóa hoặc trái phiếu chuyển đổi, sử dụng với kỳ hạn lâu
khoảng 10 năm. Những kỳ thanh toán cho những trái phiếu này cho thấy chúng
tương tự như một trái phiếu truyền thống (trả lãi hàng năm với mức cố định) và
một tập hợp những hợp đồng kỳ hạn (mỗi phiếu thanh toán khi đến kỳ tương tự như
một hợp đồng kỳ hạn). Tuy nhiên, hợp đồng kỳ hạn đến hạn là thanh toán hết tiền
để giao hàng, việc thỏa thuận xảy ra giữa hai bên đối tác hợp đồng và hợp đồng
kỳ hạn không dễ dàng được mua bán.
Dạng quyền chọn lựa (thường được gọi là trái phiếu bảo đảm quyền hàng hóa), sử dụng
kỳ hạn ngắn hơn khoảng 5 năm. Một hay nhiều quyền gọi mua - gọi bán được gắn
chặt với một chứng từ (tờ trái phiếu) hoặc những gì dùng để thanh toán. Mua một
tờ quyền chọn, trị giá US$1,000 là giá trị ghi trên mặt tờ giấy đó (mệnh giá),
nhưng kèm theo là quyền được mua hay bán một số lượng hàng hóa (vàng, dầu
thô,...) được định trước với một mức giá cũng định trước. Bởi vì những trái
phiếu này bao gồm một quyền chọn đặc biệt có giá trị trên thị trường, tỷ lệ lãi
tờ phiếu tổng quát thì thấp hơn một trái phiếu truyền thống. Vì vậy, lợi thế để
phát hành loại quyền chọn lựa là thanh toán lãi suất thấp hơn, với cách thương
mại chia sẻ mọi may rủi trong sự biến động giá của hàng hóa mà quyền chọn lựa
sẽ mua bán.
Các dạng nhà phát hành những trái phiếu hàng hóa đều là các chính
phủ hay những tập đoàn công ty, mà phải luôn làm chủ nguồn hàng hóa dùng liên
kết bảo lãnh, và đang muốn tìm một giải pháp bảo vệ tốt hơn cho những nghĩa vụ
pháp lý trên phần tài sản của mình.
Sự khiếm khuyết về tính đồng nhất của những công cụ tài chính có
tính chất cá biệt này gây cho nó rất khó khăn để xác định một số lượng phát
hành chính xác và số chủng loại những công cụ tài chính liên kết hàng hóa trong
những quốc gia đang phát triển và đã phát triển. Tuy nhiên, những báo cáo mật
từ những ngân hàng chủ chốt và những nhà mậu dịch hàng hóa trên thế giới chỉ rõ
ra rằng việc mở rộng sử dụng những giải pháp này trong những chương trình đầu
tư tài chính và tái cấp vốn không những trong các ngành công nghiệp khai khóang
mà còn cả trong những ngành công nghiệp hàng hóa đang ngày càng bành trướng.
Ngoài những hình thức trái phiếu như trình bày, còn có những dạng
chứng chỉ ký qũy, và những biện pháp khác giúp hỗ trợ chi phí vốn cho những nhà
sản xuất - kinh doanh.
Commodity - Indexed Certificates of Deposit: Một chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành đặc trưng trả lãi
cho người gửi dựa trên phần trăm của sự tăng hay giảm giá của một loại hàng hóa
hay giá trị của một chỉ số trong suốt hạn kỳ chỉ định. Kỳ hạn, loại tiền tệ, và
thể thức chia lãi được tính toán dựa trên cơ sở chứng chỉ tiền gửi chỉ số hàng
hóa có thể rất thay đổi, và những sự khác biệt này phản ánh những sự cần thiết
khác hẳn nhau của người cất giữ1.
Ở Hoa kỳ, điều chỉnh những vấn đề này gây ra sự chết yểu của việc
phát hành chứng chi tiền gửi vàng của các ngân hàng Bờ biển phía Đông và Tây
trong năm 1987. Tuy nhiên, tại những quốc gia khác, trong trường hợp đặc biệt,
như HongKong, việc phát sinh và phát triển những loại hàng hóa này có triển
vọng tốt.
Commodity Variable-Rate Loans: Tiền vay lãi suất thay đổi theo hàng hóa là một dạng tỷ lệ lãi mà
được chỉ rõ hay liên quan với việc ngân hàng chấp nhận những mức lãi thị trường
hiện hành. Những cuộc thanh toán của người vay được điều chỉnh điều chỉnh tại
những ngày đặc tả nhằm phản ánh những thăng giáng tỷ lệ lãi suất theo sau.
Chẳng hạn như những tiền vay có thể có tập hợp những mức lãi tối đa hay tối
thiểu tại thời điểm gốc. Những cuộc thanh toán tiền lãi thay đổi có thể được
chỉ rõ giá trị của một mặt hàng được sản xuất bởi người vay.
Gold Repos: liên quan tới một thực tế
tại khi vàng vượt quá mức qui định mà việc vay tiền mặt từ một ngân hàng cho
một thời điểm đặc tả. Vàng được sử dụng như đồ ký qũy cho tiền vay và được mua
lại sau này bởi người vay ở mức chênh lệch lớn hơn một tỷ lệ lãi đưa ra, nhưng
thấp hơn chi phí giữ vàng suốt khoảng thời gian này. Vì vậy, một thực tế khi
lượng vàng vượt quá mức qui định thì có khả năng có nhu cầu lập một qũy ngắn
hạn, và ngân hàng tiến hành một khoản tiền vay ngắn kỳ có thế chấp đầy đủ
(100%) ở mức lãi cao hơn mức lãi thị trường.
Bullion Loans: Một ngân hàng có thể mở
rộng tài chính cho một công ty khai khóang những giá cả vàng thoi được chỉ
định. Nhà sản xuất có thể sử dụng so sánh mức chi phí thấp cho hoạt động tài
chính này với sự cần thiết có vốn lưu động để hoạt động và vàng thanh toán (hay
trị giá tiền mặt) để bảo đảm an toàn nghĩa vụ thanh toán tiền vay.
Thị trường giao sau còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam và công cụ sử
dụng phổ biến chỉ ở các dạng thức của hợp đồng giao ngay và kỳ hạn cho ngoại
tệ, hay một vài hàng nông sản như café, hạt điều. Khoảng 10 gần đây, một số
ngân hàng cho giao dịch các hợp đồng giao sau cũng của ngoại tệ, café, và hạt
điều. Vì Việt Nam chưa có một sàn giao dịch thực sự, hay nói khác hơn là thị
trường giao sau chưa phát triển, nên các dạng thức khác của các công cụ thị
trường giao sau nêu trên chưa hiện diện trên thị trường Việt Nam.
Theo kế hoạch của Trung Ương sẽ cho ra đời dần các sàn giao dịch
tập trung mặt hàng nông sản, rồi chuyển dần sang thị trường giao sau, có thể
các dạng công cụ giao dịch tiếp theo sẽ lần lượt ra đời. Đặc biệt, các dạng
trái khoán hàng hóa giúp giảm chi phí vốn nên cần kíp ra đời để tăng tiện ích
và công cụ hỗ trợ phát triển cho ngành nông nghiệp Việt nam. Mặt hàng gạo,
café, cao su hay hạt điều đều có thể cho phát hành trái khoán hàng hóa để vừa
ổn định giá, chống rủi ro trong quá trình sản xuất vừa tạo thêm kênh thu hút
vốn nhàn rỗi trong nhân mà tính thanh khoản rất cao.
ThS. Vũ Thị Minh Nguyệt
Viện nghiên cứu Kinh tế T.P.Hồ Chí Minh
80% hàng công nghiệp Mỹ xuất khẩu sang Hàn Quốc được miễn thuế
Xuất khẩu sẽ được lợi từ FTA Việt Nam - EU
Bộ quy tắc INCOTERMS 2010
Xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế
Đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế
Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hang hóa quốc tế
Những lợi ích của việc các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường
Kinh doanh đa cấp
|
Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638, Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn |
GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011. Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC) |