Báo Cáo Tổng kết hoạt động thương mại Nghệ An năm 2007
Phương hướng, nhiệm vụ trong tâm năm 2008
Năm 2007 là năm thứ hai triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010. Đây là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng cao và bền vững nhằm hoàn thành các mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ Công Thương, của Tỉnh uỷ, HĐND-UBND tỉnh Nghệ An, Sở Thương mại đã tập trung tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ Tỉnh giao và đã thu được những kết quả khích lệ trong cải cách hành chính, trong công tác quản lý Nhà nước về thương mại trên địa bàn, giúp cho thị trường hàng hoá ổn định và có tốc độ tăng trưởng khá, hoạt động của các thành phần kinh tế thông thoáng và phát triển, quan hệ hợp tác thương mại giữa Nghệ An và các Tỉnh, Thành phố trong nước và quốc tế được mở rộng.
Phần thứ nhất
Kết quả hoạt động của thương mại nghệ an năm 2007
I/ Về hoạt động thương mại nội địa
Bước vào kế hoạch năm 2007 trong bối cảnh bắt đầu thực hiện các cam kết về gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cả nước nói chung tỉnh Nghệ An nói riêng vừa có những cơ hội, đồng thời cũng rất nhiều thách thức phải vượt qua.
Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng...việc gia nhập WTO đã tạo cơ hội cho nước ta mở rộng hợp tác kinh tế toàn diện, khai thác lợi thế so sánh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát huy tốt nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước... Tuy vậy, thị trường thế giới cũng xuất hiện nhiều biến động khó lường. Giá nhiều loại vật tư, nguyên liệu như sắt thép, phân bón, chất dẻo, giấy, bông, sợi dệt, đặc biệt là xăng dầu liên tục thay đổi ở mức cao gây áp lực cho sản xuất trong nước và làm tăng giá tiêu dùng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức mua của nhân dân. Cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
Trong nước sự ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô ngày càng được hoàn thiện là điều kiện cơ bản để huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế cho phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện và vận hành có hiệu quả.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Nghệ An vẫn còn nhiều khó khăn thách thức phải vượt qua; trước hết là năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển chưa cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa còn thấp; thiên tai bão lũ, dịch bệnh đã gây nhiều thiệt hại về người và của, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, làm giảm mức tăng trưởng chung của tỉnh.
Tuy vậy, được sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh cùng với những giải pháp được thực hiện quyết liệt, Ngành thương mại Nghệ An đã giữ được mức tăng trưởng cao, thị trường được kiểm soát, hàng hoá lưu thông thuận lợi, cung ứng phục vụ đầy đủ, kịp thời về số lượng, chất lượng và giá cả các mặt hàng chính sách thiết yếu cho đồng bào miền núi ; Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 12.405 tỷ đồng, so kế hoạch đề ra đạt 118,37% tăng 20,20% so với năm 2006 ; Chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm tăng 8,5% so với năm 2006.
Trong năm 2007, Sở Thương mại đã phối hợp với các Sở, ngành, UBND cấp huyện triển khai xây dựng mới 5 chợ, xây dựng lại và nâng cấp 11 chợ với tổng số vốn đầu tư trên 30 tỷ đồngtrong đó Nhà nước hỗ trợ 7,8 tỷ đồng. Hoạt động của hệ thống chợ trên địa bàn hiện đã dần đi vào nề nếp, cơ sở vật chất kỹ thuật mạng lưới chợ dần được cải thiện. Các địa phương trong tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình phát triển chợ và bước đầuchuẩn bị xây dựng kế hoạch chuyển đổi mô hình đầu tư, quản lý, khai thác chợ, gắn với công tác quy hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp chợ đến năm 2010.
Cùng với công tác quản lý hoạt động chợ, công tác phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại được quan tâm hơn, hoạt động kinh doanh tại các siêu thị đã đi vào nề nếp, chất lượng hàng hoá đảm bảo, đáp ứng yêu cầu phục vụ văn minh hiện đại, từng bước hình thành mạng lưới phân phối kinh doanh hàng hoá trình độ cao trên thị trường Nghệ An.
Sở Thương mại đã phối hợp với các ngành, thành phố, thị xã và huyện chỉ đạo các doanh nghiệp thương mại, các siêu thị, chợ trên địa bàn thực hiện việc kinh doanh hàng hoá đảm bảo chất lượng, VSATTP, nâng cao phong cách phục vụ, có kế hoạch nâng cấp cửa hàng cửa hiệu. Thường xuyên tổ chức tập huấn, hướng dẫn, tuyên truyền, kiểm tra công tác đảm bảo chất lượng VSATTP và tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác phòng dịch cúm gia súc, gia cầm.
ii. về hoạt động xuất nhập khẩu:
Năm 2007, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 205 triệu USD đạt kế hoạch 110,8 %, tăng trưởng 21,2 % so với năm 2006,.
Trong đó :
+ Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá : đạt 120 triệu USD đạt 103,4% KH tăng18,6 % so với năm 2006;
+ Dịch vụ thu ngoại tệ: đạt 5,7 triệu USD bằng 162,9%KH, tăng120,8% so với năm 2006.
+ Xuất khẩu lao động 79,3 triệu USD đạt 121,1% so KH, tăng 21,8% so năm 2006.
- Về mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch trên 10 triệu USD vẫn duy trì được tốc độ tăng khá như : Tinh bột sắn, Lạc nhân, gỗ dăm, gỗ và đồ gỗ, đá trắng, mủ cao su, cà phê..
- Về khu vực thị trường: Các thị trường truyền thống về xuất khẩu vẫn được duy trì, phát triển thêm được 02 thị trường mới là Marốc (xuất khẩu gạo) và Tuốcmênixtan (xuất khẩu bột đá trắng) :
+ Thị trường Châu á vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên 90% kim ngạch xuất khẩu(Trong đó : Trung quốc 53%,Thái lan 7,5%, Lào 4,3%...)
+ Thị trường Châu Âu chiếm 5% %
+ Thị trường Châu Mỹ chiếm 4 %
+Thị trường Châu Phi và thị trường khác chiếm 1 %
So với năm 2006, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vẫn được duy trì ở mức khá cao, các chỉ tiêu về tăng trưởng đều thực hiện đạt và vượt kế hoạch. Cơ cấu hàng hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng nội tỉnh.
Các chủ thể tham gia xuất khẩu ngày càng mở rộng, đa dạng hoá và hoạt động ngày càng hiệu quả. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp Cổ phần có vốn nhà nước chi phối chiếm tỷ trọng cao và có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu của cả tỉnh.
Tổng kim ngạch nhập khẩu 100 triệu USD. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là Máy móc thiết bị phụ tùng và vật tư nguyên liệu, hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng nhỏ, không đáng kể.
III. Các đơn vị Ngành thương mại:
Kết quả như sau:
- Tổng doanh thu bán hàng đạt 2.677,206 tỷ đồng.
- Tổng nộp ngân sách địa phương 11.238 tỷ đồng
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 37,872 triệu USD chiếm 31% so với kim ngạch XK hàng hoỏ toàn tỉnh.
- Thu nhập bình quân người lao động trên 1,4 triệu đồng/người/tháng.
Trong đó:
1. DNCP có vốn nhà nước chi phối.
- Tổng doanh thu 1.744,971 tỷ đồng, đạt 148,51 % KH;
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 29,891 triệu USD đạt 157 % KH.
- Nộp ngân sách địa phương 8.996 triệu đồng đạt 141,9% KH
- Cung ứng hàng chính sách miền núi: Muối Iốt, Dầu hoả thắp sáng đạt 100% KH.
2. Doanh nghiệp 100% vốn cổ phần:
- Tổng doanh thu đạt 932.235 tỷ đồng, tăng 42 % so với năm 2006.
- Nộp ngân sách địa phương 2.242 triệu đồng.
- Kim ngạch xuất khẩu 7,992 triệu USD so với 2006 bằng 154%.
(Số liệu các doanh nghiệp cụ thể ở phần phụ lục)
Mặc dù vẫn trong tình trạng gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hoá đã có nhiều cố gắng, kịp thời triển khai thực hiện nhiều giải pháp, hoàn thành các mục tiêu Đại hội cổ đông đã đề ra, sản xuất kinh doanh có những bước phát triển mới thể hiện tính liên tục, ổn định:
Trong năm qua, các doanh nghiệp có thành tích tốt trên từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể như sau:
+Hầu hết các doanh nghiệp đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động, nhiều doanh nghiệp có mức lương bình quân trên 1,5 triệu đồng/người/tháng và có cổ tức cao như Công ty CP ĐTHTKT Việt-Lào (15%), Công ty CPTM Đô Lương(22%)..
+Có 10 doanh nghiệp kinh doanh có lãi, với tổng lợi nhuận ước đạt gần13 tỷ đồng, những doanh nghiệp có lợi nhuận cao như Công ty CP Nông sản XNK tổng hợp 3.122 triệu đồng, Công ty CP Thương mại 1.300 triệu đồng, Công ty CP Hưũ nghị 1.380 triệu đồng, Công ty CP ĐTHTKT Việt -Lào 6.000 triệu đồng, Công ty CP XNK và DVTH300 triệu đồng, Công ty TMĐTPT Miền núi 250 triệu đồng, Công ty CP TMDV& DLPhủ Quỳ 250 triệu đồng.
+ Nộp ngân sách địa phương đạt 11.238 triệu đồng, những doanh nghiệp có thành tích tốt trong thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước như Công ty CP Nông sản XNK tổng hợp, Công ty CP Thương mại, Công ty CP Hữu nghị, Công ty CP Mỹ nghệ, Công ty CP ĐTHTKT Việt -Lào.
+ Công tác xuất khẩu có bước phát triển vượt bậc so với các năm trước, kim ngạch xuất khẩu trực tiếp chiếm tỷ trọng trên 31% toàn tỉnh, những Doanh nghiệp có thành tích cao trong công tác xuất khẩu như CP Nông sản XNK tổng hợp 14,356 triệu USD; Công ty TMĐTPT Miền núi 13,852 triệu USD;CP ĐTHTKT Việt -Lào 3,854 triệu USD; Công ty CP Mỹ nghệ 3,227 triệu USD và những doanh nghiệp có nhiều cố gắng như, Công ty CP XNK và Công tyCP Chế biến gỗ XK.
+ Công ty Công ty TMĐTPT Miền núi, Công ty CP TMDV& DLPhủ Quỳ và các công ty CP thương mại Đô Lương, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu đã cung ứng kịp thời các mặt hàng chính sách cho đồng bào dân tộc miền núi, đảm bảo đúng số lượng, chất lượng và giá cả theo quy định.
+ Các công ty CP Vật liệu XD Miền Trung, Công ty CP XL Thương mại, Công ty CP Vật liệu XD& Thương mại đã có nhiều cố gắng trong tìm kiếm mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác trong hoạt động sản xuất kinh doanh...
+ Nhìn chung mạng lưới kinh doanh của đa số các doanh nghiệp đã được củng cố, phát triển, khang trang, sử dụng khá hiệu quả .
Iii/ kết quả trên một số mặt công tác của sở thương mại.
1. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại:
Đây là công tác luôn được ngành quan tâm trong nhiều năm qua, theo chương trình công tác năm 2007 của UBND tỉnh Nghệ An, Sở thương mại đã triển khai điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2010, có tính đến năm 2020; Xây dựng đề án chuyển đổi mô hình Tổ chức, quản lý, khai thác kinh doanh chợ trên địa bàn Nghệ An; Đề án Xây dựng Trung tâm Hội chợ triển lãm Nghệ An, các đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt. Nhìn chung các đề án, văn bản quy phạm pháp luật do ngành tham mưu đảm bảo chất lượng và tiến độ phát huy hiệu quả, góp phần thiết thực vào công tác quản lý Nhà nước đối với ngành đồng thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp.
Bên cạnh xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật theo nhiệm vụ được giao, Sở còn tham mưu cho UBND các huyện, tổ chức xây dựng các đề án quy hoạch phát triển thương mại-dịch vụ trên địa bàn như Quy hoạch phát triển Trung tâm thương mại-siêu thị, chợ vùng, mạng lưới thương mại các cụm xã, thị tứ;quy hoạch phát triển kinh tế HTX, tổ hợp tác tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ...;tham gia đóng góp tích cực vào các Dự thảo Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Thương mại .
Công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình.
2. Công tác tham mưu chỉ đạo, tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách pháp luật về thương mại:
Công tác phổ biến tuyên truyền văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách mới của Nhà nước luôn được chú trọng và thực hiện thường xuyên dưới nhiều hình thức như phát hành bản tin, tổ chức các cuộc hội nghị, ban hành văn bản chỉ đạo triển khai, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, để phổ biến cho mọi đối tượng kinh doanh và nhân dân được biết các cơ chế chính sách về công tác thương mại, thị trường; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh ở gia súc gia cầm, dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm ở người và các quy định pháp luật về thương mại trong tiến trình Hội nhập .
- Phối hợp với Bộ thương mại và các trường Đại học, Cao đẳng... tổ chức hội thảo và tổ chức 07 lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý nhà nước về Chợ, Thương mại điện tử, nâng cao vai trò năng lực Quản lý nhà nước về thương mại, Hội nhập kinh tế quốc tế, nghiệp vụ thương mại quốc tế, công tác Quản lý thị trường, bồi dưỡng nghiệp vụ về kinh doanh các mặt hàng kinh doanh có điều kiện cho hơn 2.000 lượt người tham gia thuộc tất cả các đối tượng, đặc biệt trong đó có cán bộ cấp phường, xã và 2 lớp nghiệp vụ kinh doanh xăng dầu cho hơn 200 học viên là cán bộ, nhân viên các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh .
3. Công tác quản lý bán hàng đa cấp, khuyến mại và các mặt hàng kinh doanh có điều kiện
Trong thời gian qua, 06 thương nhân có trụ sở chính ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng thông báo hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó có 03 thương nhân thông báo hoạt động trong năm 2007.
Hoạt động bán hàng đa cấp trong năm 2007 qua đã đi vào nề nếp, các thương nhân chấp hành đầy đủ các quy định của Luật Cạnh tranh và Nghị định 110/2005/NĐ-CP ngày 25 tháng 08 năm 2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.
Trong năm số lượng thương nhân trong và ngoài tỉnh thực hiện việc khuyến mại tăng lên và đã tổ chức các chương trình khuyến mại theo đúng quy định của pháp luật, trong đó :
- Trên 600 chương trình khuyến mại với các hình không phải xin văn bản chấp thuận .
- 16 chương trình khuyến mại được Cục Xúc tiến thương mại cấp văn bản chấp thuận và đã thông báo cho Sở Thương mại Nghệ an .
- 10 chương trình khuyến mại do Sở Thương mại cấp văn bản chấp thuận, trong đó đã có 6 chương trình khuyến mại tổ chức bốc thăm trúng thưởng và trao giải thưởng với sự giám sát của Sở Thương mại.
Trong công tác quản lý các mặt hàng kinh doanh có điều kiện, đến naySở Thương mại đã chứng nhận cho 1.460 cơ sở đủ ĐKKD, riêng năm 2007 đã cấp và đổi 435 giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, trong đó: 116 giấy đủ ĐKKD và vận chuyển xăng dầu, 122 giấy đủ ĐKKD gas, 97 giấy đủ ĐKKD rượu, 100 giấy đủ ĐKKD thuốc lá cho doanh nghiệp. Việc cấp phép đảm bảo đúng quy định, góp phần quản lý tốt các mặt hàng kinh doanh có điều kiện.
4. Công tác thanh tra ngành và Quản lý thị trường
Tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt công tác thanh kiểm tra Nhà nước, thông qua việc phối hợp chặt chẽ với các phòng ban, tổ chức đoàn thể hướng dẫn, tuyên truyền và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm túc Pháp luật và các chương trình kiểm tra. Chủ động ngăn ngừa những hành vi có dấu hiệu vi phạm trong quản lý và điều hành. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo và chống tham nhũng được duy trì thường xuyên, đúng thủ tục, nguyên tắc, không để tồn đọng. Trong năm tiếp nhận 07 đơn thư khiếu nại tố cáo đã giải quyết 02 đơn thuộc thẩm quyền của Giám đốc sở, chuyển 05 đơn các cấp giải quyết.
Công tác quản lý thị trường có nhiều tiến bộ. Thực hiện tốt vai trò cơ quan thường trực Ban chỉ đạo 127 Tỉnh, Sở đã chỉ đạo việc tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, chống sản xuất buôn bán hàng giả, hàng nhái góp phần ngăn chặn kịp thời tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại tại các vùng trên địa bàn tỉnh góp phần ổn định thị trường.
Trong năm 2007, lực lượng quản lý thị trường Nghệ An tiến hành 1.496 lượt kiểm tra các cơ sở kinh doanh trên địa bàn đã xử lý 880 vụ, Tổng giá trị thu phạt và chuyển truy thu thuế trên 5,6 tỷ đồng.
Trong đó:
- Kinh doanh hàng cấm, hàng nhập lậu: xử lý hành chính 103 vụ phạt 151,5 triệu đồng và giá trị hàng tịch thu gần 3,5 tỷ đồng hàng hóa;
- Sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm quy chế ghi nhãn mác hàng hóa: xử lý hành chính 479 vụ phát tiền 710 triệu đồng và giá trị hàng tịch thu gần 1 tỷ đồng;
- Kinh doanh trái phép: xử lý 297 vụ, phạt hành chính 211,6 triệu đồng.
Qua kết quả thực hiện cho thấy số vụ kiểm tra và xử lý đã có giảm hơn so với năm 2006, nhiều vụ việc phức tạp đã phối hợp với các cơ quan tư vấn giải quyết đúng theo pháp luật.
5. Công tác Hội nhập kinh tế quốc tế và xúc tiến thương mại.
Công tác Hội nhập kinh tế quốc tế của Sở đã được tập trung đẩy mạnh triển khai, là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo hội nhập KTQT của tỉnh Sở đã chủ trì phối hợp với các Ngành tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của Nghệ An đến năm 2010 và biên soạn tài liệu về Hội nhập KTQT của tỉnh. Tổ chức quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của BCH Trung ương khóa X; Chương trình hành động của Chính phủ, Chương trình hành động của Nghệ An về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; mở các lớp tập huấn, các hội nghị, hội thảo để phổ biến các cơ hội, thách thức, các luật lệ của WTO, nội dung cam kết theo từng lĩnh vực cụ thể khi Việt Nam gia nhập WTO cho các đối tượng có liên quan trên địa bàn Tỉnh.
Công tác xúc tiến thương mại có nhiều hoạt động thiết thực và phong phú phục vụ tốt Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đã góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và phát triển thị trường nội địa. Sở Thương mại đã tổ chức thành công 15 hội chợ triễn lãm đầu tư phát triển thương mại... trên địa bàn với trên 500 ngàn lượt người tham quan. Tham gia 01 Hội chợ quốc tế tại tỉnh Noọngkhai Thái Lan và Hội chợ tuần lễ cách mạng xanh tại Hà nội giới thiệu sản phẩm hàng hoá đặc trưng của Nghệ An. Trưng bày giới thiệu sản phẩm hàng hoá và các tài liệu kêu gọi đầu tư của Nghệ An tại Niuyooc và ĐuBai.Hỗ trợ tư vấn cho các doanh nghiệp thông tin về các văn bản pháp quy, xây dựng và đăng ký bảo hộ thương hiệu; tư vấn nghiệp vụ xuất nhập khẩu, marketng giới thiệu khách hàng. Tham gia góp phần tạo nên thương hiệu Cam Vinh, nước mắm Cửa Hội, nước mắm Vạn Phần, Ngói lợp Tân Kỳ...
6. Công tác cải cách hành chính, tổ chức bộ máy, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
Công tác cải cách hành chính đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, các nội quy quy định về trách nhiệm nghĩa vụ, văn hoá công sở và chuẩn mực ứng xử của công chức khi thi hành công vụ; thủ tục và trình tự cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh có điều kiện và các thủ tục chứng nhận đăng ký hội chợ, lập văn phòng đại diện.. đều được công khai minh bạch. Kết quả việc làm các thủ tục tại Sở thương mại đã rút ngắn được từ 7 đến 10 ngày.
Công tác tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thường xuyên được coi trọng, định kỳ đánh giá lại đội ngũ cán bộ chủ chốt trong toàn ngành, xây dựng quy hoạch cán bộ. Việc đào tạo bồi dưỡng, sắp xếp điều động bố trí đề bạt, bổ nhiệm cán bộ tại văn phòng Sở, Trung tâm XTTM và Chi cục QLTT...theo đúng quy trình. Do đó chất lượng đội ngũ cán bộ đã được nâng lên đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Công tác thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong năm 2007 có bước chuyển biến mạnh mẽ, hệ thống quy chế hoạt động của cơ quan đã được kịp thời bổ sung sửa đổi đầy đủ. Thông qua hệ thống quy chế công việc điều hành cơ quan ngày càng dân chủ công khai, nề nếp, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thương mại Nghệ An còn có những hạn chế, cần rút kinh nghiêm trong tổ chức thực hiện năm 2008 - Quy mô xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người còn quá thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa chưa được cải thiện, chủng loại đơn điệu, không có sản phẩm mới tham gia xuất khẩu.
- Nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được cơ hội để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu; chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO.
- Hoạt động xúc tiến thương mại và xúc tiến đầu tư, công tác tìm kiếm thị trường và xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp trên địa bàn, việc thu hút đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại trên địa bàn còn hạn chế.
- Thông tin, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp Nghệ An đến các địa phương trong nước và nước ngoài còn nghèo nàn, chất lượng cung cấp thông tin thương mại chỉ đáp ứng được thông tin mang tính tổng hợp, còn thiếu nhiều thông tin đã qua xử lý hoặc thông tin mang tính dự báo.
- Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường tuy đã có nhiều cố gắng nhưng tình trạng nạn buôn lậu và gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp như: Tình trạng kinh doanh hàng giả hàng kém chất lượng, vi phạm về sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ trong kinh doanh còn diễn ra nhiều nơi trên địa bàn.
- Việc chuyển giao vốn nhà nước của 2 công ty CP có vốn Nhà nước (Công ty CP Thương mại Nghệ An và Công ty CP Thương mại Đầu tư phát triển miền núi Nghệ An ) cho Tổng công ty quản lý và kinh doanh vốn Nhà nước chưa thực hiện được.
Phần thứ hai :
Phương hướng nhiệm vụ và giải pháp phát triển thương mại nghệ an năm 2008
Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng trưởng cao và bền vững cho cả giai đoạn 5 năm (2006-2010), thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra.
i.Bối cảnh trong nước và quốc tế.
Tình hình năm 2008 có những yếu tố tác động đến phát triển sản xuất và thương mại Nghệ An như sau :
1. Những thuận lợi cơ bản:
- Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực trong kế hoạch 2006-2010 đã được xác định cơ bản. Các ngành các cấp đã có chương trình đề án cụ thể tại Nghị quyết 01-NQ/TU ngày 26/12/2005 của BanThương vụ Tỉnh uỷ về chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Các nghị quyết 5,6,7 ..của Ban chấp hành TW sẽ đi vào cuộc sống.
-Thực hiện các cam kết Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới, thị trường rộng mở, khả năng vốn đầu tư ODA,FDI,NGO tăng. Kết cấu hạ tầng được cải thiện khá.
- Nền kinh tế của tỉnh Nghệ An tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực; đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân được nâng lên một bước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với mức bình quân chung của cả nước.
- Cơ chế chính sách điều hành hoạt động thương mại của Chính phủ, Bộ Công Thương và Uỷ ban nhân dân Tỉnh tiếp tục được hoàn thiện sẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng, mang lại hiệu quả tích cực hơn trong hoạt động kinh doanh thương mại.
2. Khó khăn thách thức:
- áp lực hội nhập tới nền kinh tế nước ta ngày càng lớn trong khi xuất phát điểm kinh tế của cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng vẫn ở mức thấp, năng lực sản xuất một số sản phẩm hàng hoá của địa phương còn hạn chế, chưa xây dựng được thương hiệu, chất lượng còn kém, giá thành cao chưa theo kịp trình độ chung.
- Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế.
- Giá xăng dầu và các loại vật tư, nguyên liệu đầu vào quan trọng tăng sẽ gây áp lực tăng chi phí và mặt bằng giá trong nước, giảm hiệu quả đầu tư và khả năng cạnh tranh.
- Đời sống nhân dân trong Tỉnh nhìn chung đã được cải thiện, nhưng vẫn còn ở dưới mức trung bình của cả nước, miền núi cao, vùng sâu vùng xa gặp nhiều khó khăn. Sức mua của thị trường nội tỉnh hạn chế.
Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể có những diễn biến phức tạp chưa lường hết được.
II. mục tiêu phát triển thương mại
1.Chỉ tiêu tổng hợp của ngành năm 2008:
Trước những yếu tố thuận lợi và khó khăn nêu trên, phát huy đà tăng trưởng kinh tế đã đạt trong năm 2007, để góp phần đạt được mức tăng trưởng GDP của cả tỉnh năm 2008 từ 11,0-12,0%, cơ cấu ngành Dịch vụ từ 36,96% lên 37,04%, với tinh thần chỉ đạo phấn đấu năm 2008 thực hiện cơ bản những mục tiêu đề ra cho kỳ kế hoạch 5 năm 2006-2010, ngành Thương mại thực hiện các chỉ tiêu như sau:
-Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên thị trường nội tỉnh đạt : 14.985 tỷ đồng. Tăng 20,8% so với năm 2007, đạt trên 83 % mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 18.000 tỷ đồng.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn: 235 triệu USD. Tăng 20,51% so với năm 2007, đạt 67,2 % mục tiêu đề ra cho năm 2010
Trong đó
+ Xuất khẩu hàng hoá: 145,0 triệu USD
+ Xuất khẩu lao động : 84,0 triệu USD
+ Xuất khẩu dịch vụ : 6,0 triệu USD
- Tổng kim ngạch nhập khẩu : 133 triệu USD
-Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu, không để xẩy ra sốt hàng, sốt giá, góp phần kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng theo mục tiêu của UBND tỉnh đề ra.
2.Chỉ tiêu kế hoạch 2008 của các doanh nghiệp thương mại.
2.1. Chỉ tiêu kế hoạch của các Công ty CP nhà nước chi phối .
Tổng doanh thu : 1.429 tỷ đồng
Giá trị sản xuất(giáCĐ 1994) : 145,9 tỷ đồng
Kim ngạch xuất khẩu : 22,3 triệu USD
Nộp ngân sách : theo luật định
2.2. Chỉ tiêu thi đua của các đơn vị 100% vốn cổ phần
Tổng doanh thu : 1.200 tỷ đồng tăng 18-20% so với năm 2007.
Kim ngạch xuất khẩu : 8,0 triệu USD
Nộp ngân sách : theo luật định
3.Các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể của ngành năm 2008.
3.1.Xuất khẩu
- Tiếp tục tập trung đẩy mạnh xuất khẩu những sản phẩm chủ lực của địa phương bao gồm các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo nhằm tạo kim ngạch lớn, giải quyết việc làm cho người lao động.
- Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, theo hướng phát triển các mặt hàng có kim ngạch tuy chưa lớn nhưng đang có tốc độ tăng trưởng cao, không bị hạn chế hoặc chưa bị hạn chế về thị trường và không thuộc diện bị áp thuế để hình thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới như sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, cao su và sản phẩm cao su..
- Thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng và hàng hoá xuất khẩu đối với các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng thuộc nhóm nông lâm thuỷ sản do bị hạn chế về diện tích, năng suất và phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên chưa có điều kiện tăng nhiều về khối lượng như lạc, chè, cà phê, nước dứa, bột sắn..
3.2.Thương mại nội địa:
- Bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa trên địa bàn, không để xẩy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, sốt giá, sốt hàng hay đầu cơ tích trữ hàng hóa để lợi dụng tăng giá.
- Phát triển thị trường nội địa một cách bền vững theo hướng hiện đại dựa trên các hệ thống và kênh phân phối hợp lý với sự tham gia của các loại hình tổ chức và các thành phần kinh tế, vận hành trong môi trường cạnh tranh có sự quản lý và điều tiết của nhà nước.
- Nâng cao vai trò của thương mại nội địa trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo cơ sở để phát triển xuất khẩu,chú trọng việc cung ứng hàng chính sách và thu mua nông lâm sản cho đồng bào miền núi.
- Nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thị trường và kiểm tra giám sát chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường nội tỉnh, nhằm đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế trên địa bàn.
2.3 Đầu tư xây dựng
Tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2008 của ngành thương mại khoảng 47 tỷ đồng, trong đó Xây dựng cơ bản Chợ liên xã miền núi 17,6 tỷ đồng, XDCB và kinh phí chuẩn bị đầu tư của các đợn vị HCSN là 27 tỷ đồng.
2.4 Hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế
-Triển khai tổng kết, đánh giá những mặt được và chưa được của ngành Thương mại sau một năm gia nhập WTO; đồng thời tổ chức thực hiện chương trình hành động của ngành thực hiện Chương trình hành động của UBND Nghệ An thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành TW Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới.
- Các doanh nghiệp trong toàn ngành tổ chức nghiên cứu, xây dựng các giải pháp nhằm tận dụng tốt cơ hội do việc gia nhập WTO mang lại, khắc phục những yếu kém trong quản lý, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đầu tư có hiệu quả.
2.5 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại .
- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại trong lộ trình hội nhập kinh tế Quốc tế của Nghệ an đồng thời gắn với xúc tiến đầu tư để tìm kiếm thị trường, tập trung chú trọng khai thác thị trường truyền thống, thị trường trọng điểm .
- Tiếp tục hỗ trợ tư vấn cho các doanh nghiệp thông tin về các văn bản pháp quy, xây dựng và đăng ký bảo hộ thương hiệu; tư vấn nghiệp vụ xuất nhập khẩu, marketng giới thiệu khách hàng.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại (nghiên cứu khảo sát thị trường, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại..trong và ngoài nước).
III. các giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu:
1. Xuất khẩu.
-Tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung đề án xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 cho phù hợp với yêu cầu và tình hình mới. Đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đã đề ra.
-Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có thị trường lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh như đồ gỗ....Chú trọng tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ, xuất khẩu lao động. Phát triển thị trường xuất khẩu, chú trọng thị trường truyền thống.
- Xây dựng cơ chế và phương thức nắm bắt thông tin để kịp thời xử lý, tạo điều kiện động viên, thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Phối hợp với các ngành xây dựng các chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp với các định chế của WTO như bảo hiểm xuất khẩu, sử dụng 10% giá trị hàng nông sản trợ cấp cho sản xuất hàng nông sản, trong đó chú ý tới các hàng nông sản xuất khẩu...
- Tăng cường và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, gắn công tác xúc tiến thương mại với yêu cầu tăng trưởng xuất khẩu, đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu đi đôi với việc đề cao chữ “tín” trong thương mại quốc tế. Tăng cường mối liên kết giữa xúc tiến thương mại với xúc tiến đầu tư.
- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát chất lượng hàng hóa nhằm củng cố, tăng uy tín và tránh thiệt hại cho hàng xuất khẩu của Nghệ an trên thị trường khu vực và thế giới.
2. Thương mại thị trường nội địa:
- Tiếp tục công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn thực hiện Luật Thương mại, Luật cạnh tranh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phù hợp với thông lệ quốc tế và WTO.
- Quan tâm hơn nữa công tác phát triển thị trường nội địa, phát triển mạnh mạng lưới thu mua và đại lý thu mua, tiêu thụ các loại hàng hoá trong tỉnh nhất là khu vực nông thôn, vùng núi cao, vùng xa. Đặc biệt việc kinh doanh phục vụ hàng chính sách cho đồng bào miền núi.
- Từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý ngành hàng và tổ chức hệ thống phân phối theo chức năng của từng ngành; lập lại trật tự kỹ cương trong hoạt động kinh doanh từ thành phố, thị xã đến các địa phương trong tỉnh nhất là việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại. Đặc biệt chú trọng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường, góp phần kiểm soát chi phí sản xuất chi phí lưu thông những mặt hàng thiết yếu nhằm hạn chế sự tăng giá của các mặt hàng.
- Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trên cơ sở đề xuất và vận dụng các chính sách hỗ trợ ưu đãi và khuyến khích của nhà nước.
3. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản:
Các doanh nghiệp, tổ chức cơ sở kinh doanh cần chủ động tích cực vận động, tìm kiếm đối tác tham gia thực hiện đầu tư các dự án xây dựng: Trung tâm thương mại, siêu thị, các chợ liên xã trên địa bàn nhằm tăng địa điểm kinh doanh, tăng lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường nhất là vùng nông thôn, miền núi.
Tiếp tục triển khai công tác quy hoạch phát triển các mạng lưới thương mại trên địa bàn: chợ, cửa hàng xăng dầu, trung tâm thương mại, siêu thị, kho bãi, cửa hàng, đúng định hướng. Thực hiện tốt quy hoạch đã được phê duyệt.
4.Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn mới, ngoài nhiệm vụ chuyên môn cần chú trọng trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức pháp luật và quản lý nhà nước.
Chủ động công tác bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ. Thực hiện nghiêm túc quy chế khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh đối với những người vi phạm đạo đức công vụ, không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
5. Hoàn thiện và đổi mới nội dung QL NN.
- Tiếp tục thực hiện công tác xây dựng 05 đề án, cụ thể như sau:
+ Đề án “quy hoạch phát triển thương mại đến năm 2020 ”;
+ Đề án “chương trình XTTM trọng điểm Nghệ An đến năm 2010, định hướng đến 2015 ”
+ Đề án “Nâng cao vai trò QLNN trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007-2015 ”
+ Đề án “Cơ chế khuyến thương hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh XNK trên địa bàn tỉnh Nghệ An khi Việt Nam là thành viên WTO”
+ Đề án “Quy chế phối hợp kiểm tra doanh nghiệp ngoài Quốc doanh sau khi cấp phép đăng ký kinh doanh trên địa bàn Nghệ An ”.
- Rà soát và bổ sung điều chỉnh Quyết định 121/QĐ-UB, ngày 9/11/2004 của UBND tỉnh về “Ban hành quy định một số cơ chế, chính sách phát triển thương mại miền núi vùng đồng bào dân tộc ít người trên địa bàn Nghẹ An ”.
- Tăng cường công tác theo dõi, quản lý, kiểm tra giám sát việc thực hiện các quy hoạch đã được duyệt.
- Phối hợp với các ngành, các địa phương trong việc điều hành sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông hàng hoá, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại...
- Tăng cường hoạt động thương mại điện tử. Học tập và áp dụng các mô hình thương mại điện tử phù hợp với trình độ của các doanh nghiệp đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp tham gia.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, chú trọng cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, củng cố kỷ luật, cải tiến lề lối tác phong làm việc. Nghiêm túc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.Thực hiện việc triển khai xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại với chất lương ngày càng cao, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của cơ quan Sở.
- Tăng cường nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công nhân viên chức trong công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Cải tiến và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động các doanh nghiệp trong toàn ngành theo đúng pháp luật, phát triển đúng chiến lược, đúng quy hoạch.
Năm 2008, là năm thứ 3 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, để hoàn thành kế hoạch HĐND, UBND Tỉnh giao, nhiệm vụ của Ngành thương mại Nghệ An là rất nặng nề, thị trường sẽ diễn biến phức tạp với nhiều thách thức mới, Ngành thương mại Nghệ An mong nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ thương mại, Tỉnh uỷ, HĐND - UBND Tỉnh, nhận được sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, Ban, Ngành, UBND thành phố, thị xã, huyện và các doanh nghiệp trên địa bàn. Với sự quan tâm và giúp đỡ thiết thực đó Ngành thương mại Nghệ An hy vọng sẽ thực hiện toàn diện nhiệm vụ được giao, giữ vững nhịp độ tăng trưởng, phát triển thương mại Nghệ An, phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn, tạo đà cho sự phát triển đi lên của các năm tiếp theo, đồng thời góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nghệ An, sớm đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, chủ động vững bước trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Sở Thương mại
|
Cơ quan chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An
|
GP Số 10/GP-BC Cục Báo chí - Bộ TT & TT cấp ngày 10/1/2008
|
|
Cơ quan thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Nghệ An
|
Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng - G.đ.Trung tâm
|
|
Địa chỉ liên hệ : 70 Nguyễn Thị Minh Khai- Tp Vinh. Nghệ An
|
Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An (NTPC)
|
|
Tel : 84.38 3596628 Fax : 84.38.3596638
|
Phiên bản nâng cấp, sửa đổi năm 2009
|
|
Email : ntpcnghean@hn.vnn.vn
|
|