19-5-2012
Phát triển TTCN, làng nghề cần định hướng rõ ràng (12/20/2011 3:16:28 PM)

Mô hình làng có nghề, làng nghề ở nông thôn ngày càng phát triển về số lượng, đa dạng về loại hình, một số làng nghề hoạt động khá bền vững và hiệu quả. Giá trị sản xuất từ làng có nghề, làng nghề tăng trưởng hàng năm tăng từ 18-25%.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 06/NQ.TU ngày 08/8/2001 của Ban chấp hành

Đảng bộ tỉnh khóa XV về phát triển Công nghiệp, TTCN và làng nghề lĩnh vực kinh tế TTCN-làng nghề tỉnh Nghệ An đã được nhiều kết quả khá:

Giá trị sản xuất TTCN tăng 4,8 lần, từ 515 triệu đồng năm 2001 lên 2.840 triệu đồng năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 18-21%. Một số sản phẩm TTCN có quy mô lớn, chủng loại phong phú và đã có thương hiệu mạnh. Nhiều cơ sở sản xuất TTCN, làng nghề ổn định sản xuất và giữ vững thị trường như: Công ty TNHH Đức Phong, DNTN Phong Cảnh, Công ty CP mỹ nghệ, HTX TTCN Quyết Thành, HTX làng nghề Nghĩa Hoàn, Làng nghề Trung Kiên, Công ty Hải Châu,…

Mô hình làng có nghề, làng nghề ở nông thôn ngày càng phát triển về số lượng, đa dạng về loại hình, một số làng nghề hoạt động khá bền vững và hiệu quả. Giá trị sản xuất từ làng có nghề, làng nghề tăng trưởng hàng năm tăng từ 18-25%. Một số sản phẩm làng nghề có giá trị khá cao và tốc độ tăng trưởng bền vững như: mây tre đan xuất khẩu, chế biến hải sản, mộc mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và dâu tằm tơ. Nhiều huyện sản xuất TTCN từ làng nghề trở thành lĩnh vực chủ lực, chiếm 70 - 80% giá trị kinh tế của xã như: Mây tre đan xã Nghi Phong, Nghi Thái (Nghi Lộc); Chế biến hải sản Diễn Ngọc, Diễn Bích (Diễn Châu); Sản xuất mộc dân dụng, mỹ nghệ Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Hưng (Quỳnh Lưu); Sản xuất gạch ngói Nghĩa Hoàn (Tân Kỳ); Đóng tàu thuyền Nghi Thiết (Nghi Lộc),… Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh đã khôi phục, xây dựng phát triển 317 làng có nghề (trong đó có 102 làng nghề được tỉnh công nhận thu hút trên 37.000 lao động.

 Lĩnh vực TTCN, làng nghề đã có những đóng góp đáng kể cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của các địa phương và toàn tỉnh: Tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thu hút lực lượng lao động thường xuyên từ 1,8-2 vạn người, với mức thu nhập người lao động hàng năm 6-8 triệu đồng/năm. Góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của hộ gia đình nông thôn, phát triển hạ tầng và an sinh xã hội, tạo động lực thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc, phát triển du lịch. Nhiều nghề truyền thống được bảo tồn và phát triển như: Đan lát, dệt thổ cẩm, dệt tơ lụa, chạm trổ, gỗ, đá mỹ nghệ, chế biến hải sản, đúc đồng, rèn và cơ khí nhỏ,… 

Bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực TTCN, làng nghề và làng có nghề vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết:

Quá trình phát triển TTCN, xây dựng làng nghề còn ở giai đoạn thấp chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của tỉnh, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ thiết bị lạc hậu, hiệu quả thấp, chưa có tổ chức kinh tế đủ mạnh để chăm lo đầu vào, đầu ra cho sản xuất, sản phẩm xuất khẩu phải qua ủy thác từ doanh nghiệp ngoài tỉnh. Hoạt động sản xuất của các làng nghề chủ yếu tại các hộ gia đình, lực lượng lao động dồi dào nhưng trình độ tay nghề kỹ thuật chưa cao nên năng suất thấp.

Các cụm công nghiệp đã hình thành nhưng chưa thu hút được nhiều làng nghề vào sản xuất vì tập quán và cách tổ chức của hộ gia đình chưa quen sản xuất tập trung công nghiệp. Hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, môi trường hoạt động còn nhiều bất cập cho việc phát triển làng nghề. Giao thông cho một số làng nghề, hệ thống xử lý môi trường, kênh mương,... chưa được đầu tư. Đặc biệt là các ngành nghề như: chế tạo cơ khí nhỏ, chế biến hải sản, nông sản thực phẩm bún bánh, sản xuất giấy,…

Cơ cấu ngành nghề chưa đa dạng, không ổn định, chủ yếu sản phẩm của làng nghề truyền thống, tiêu thụ trong nước tương đối ổn định nhưng không mở rộng được sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, thu nhập thấp, thu hút lao động kém. Phát triển khôi phục làng nghề còn chậm, chưa theo định hướng quy hoạch, hầu hết các ngành nghề, làng nghề nông thôn đều đang sử dụng công nghệ thủ công, lạc hậu. Phát triển của các vùng, các xã không đồng đều, tập trung phát triển nhanh chủ yếu ở các thị trấn, thị tứ và vùng phụ cận.

Các cơ chế chính sách chưa được phổ biến đến tận cơ sở, một số huyện ít quan tâm đến xây dựng chính sách cho phát triển mô hình làng nghề. Kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề, phát triển làng nghề còn ít. Mặt khác một bộ phận cán bộ, nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỉ lại sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa mạnh dạn đầu tư cả về nguồn nhân lực, vốn cơ sở vật chất, khoa học, kỹ thuật cho phát triển nghề, làng nghề. Duy trì phát triển nghề sau khi đào tạo chưa nhiều, hành nghề chưa vững chắc.

Công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm còn lúng túng, không đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh và xuất khẩu, chưa thể hiện rõ vai trò của Nhà nước. Sản phẩm hàng hoá mẫu mã chưa cải tiến, sao chép, kém đa dạng, chất lượng chưa cao, quy mô khối lượng hàng chưa đủ để xuất khẩu trực tiếp, còn phụ thuộc vào mạng lưới của các đơn vị ngoại tỉnh.

Vì vậy, một câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là làm gì để TTCN, làng nghề phát triển bền vững và hiệu quả? Để trả lời cho câu hỏi này, từ nay đến năm 2015 cần xây dựng lộ trình mục tiêu và định hướng phát triển rõ ràng:

 Xây dựng các cơ sở sản xuất TTCN, làng nghề thành tổ chức, đơn vị kinh tế sản xuất kinh doanh có quy mô, là động lực chính cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống người lao động ở nông thôn. Phát triển làng nghề ở các vùng có nghề truyền thống, du nhập nghề mới, đồng thời nhân rộng và phát triển đến các vùng, huyện còn chậm. Đặc biệt tập trung xây dựng các mô hình làng nghề ở các huyện miền núi, trước hết là các nghề: Dệt thổ cẩm, sản xuất hương, chế biến lâm sản và các sản phẩm du lịch.

Tiếp tục quy hoạch và xây dựng các cụm công nghiệp ở các địa phương để thu hút các cơ sở TTCN đầu tư, mở rộng cơ sở sản xuất. Xây dựng làng nghề đủ mạnh, có thương hiệu và quy mô sản xuất tạo tiền đề tiếp thu các chính sách về phát triển nghề, đào tạo nghề, hỗ trợ hạ tầng làng nghề, hỗ trợ học nghề cho các đối tượng chính sách,... Tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất TTCN mở rộng từ cơ sở truyền thống đã có, tiến tới tạo cơ sở sản xuất tập trung thành quy mô vừa và thu hút sản xuất tại cụm làng nghề, cụm chế biến hải sản tập trung. Khuyến khích chú trọng các làng nghề sản xuất các sản phẩm có sức cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, đảm bảo tính bền vững và lâu dài.

Kết hợp hài hoà, hợp lý giữa bảo tồn, khôi phục làng nghề truyền thống, giữ vững phát huy nghề sản phẩm nghề có bản sắc văn hoá dân tộc,... với việc du nhập nghề mới có nhiều sức mạnh về giá trị kinh tế thị trường.

Tập trung xây dựng phát triển một số nghề có thế mạnh của tỉnh như:

Nghề mây tre đan: Phát triển nghề ở các địa phương có truyền thống, mở rộng ở các địa phương vùng đồng bằng thuần nông, vùng ven biển. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp, HTX cung ứng nguyên liệu, đặt hàng, thu mua sản phẩm cho các hộ dân và làng nghề.

Nghề dệt thổ cẩm: Khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm của đồng bào dân tộc Thái, HMông… ở các huyện miền núi như: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn.

Nghề ươm tơ, dệt sợi: Chú trọng phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa; phát triển mô hình sản xuất làng nghề dâu tằm tơ có truyền thống ở các địa phương có điều kiện thuận lợi nhằm khai thác tiềm năng đất đai, lao động, tay nghề, nâng cao kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm kéo sợi đũi để làm tơ xe và dệt lụa.

Nghề chế biến thuỷ, hải sản: Đây là lĩnh vực có thế mạnh, sắp tới nên định hướng phát triển theo 2 nhóm: Nhóm sản phẩm truyền thống gồm nước mắm, cá khô, mực khô, mắm ruốc… phục vụ thị trường nội địa và nhóm sản phẩm chất lượng cao như: tôm, cua, mực, cá,… chế biến trên công nghệ thiết bị tiên tiến phục vụ xuất khẩu.

Sản xuất mộc dân dụng và mỹ nghệ: Là nghề có lợi thế phát triển do thuận lợi về nguồn nguyên liệu, do đó cần khuyến khích đầu tư phát triển các loại hình kinh tế: Doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác để hỗ trợ làng nghề tham gia sản xuất kinh doanh.

Chế biến nông sản, thực phẩm: Phấn đấu đến năm 2015, sản lượng chế biến nông sản, thực phẩm: 1,5 triệu tấn/ năm, GTSX đạt 210 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 5.000 lao động; xây dựng được 10 làng nghề và 2 làng có nghề bố trí ở các địa phương trong tỉnh kết hợp phát triển làng nghề truyền thống.

Sản xuất vật liệu xây dựng: Phát triển mạnh các cơ sở, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất VLXD, gốm sứ, đá,... đáp ứng nhu cầu xây dựng trên địa bàn, sản xuất các sản phẩm VLXD cao cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Đồng thời chú ý phát triển tại chỗ cho nhu cầu xây dựng vùng sâu, vùng xa.

Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Với nguồn tài nguyên đá trắng có chất lượng cao ở huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Tân Kỳ là lợi thế của Nghệ An để phát triển sản phẩm mỹ nghệ và sản xuất hàng lưu niệm từ đá, đây là một nghề mới du nhập nhưng có nhiều tiềm năng.

Nghề cơ khí nhỏ: Khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất cơ khí nhỏ ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Thái Hòa,... đáp ứng nhu cầu về chế tạo dụng cụ cầm tay, thiết bị, phụ tùng thay thế, bảo dưỡng đối với trang thiết bị máy móc, phương tiện trong sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu xây lắp các công trình xây dựng.

Các nghề TTCN khác: Phát triển các làng nghề dệt chiếu cói, hương, chổi đót, giấy gió, dệt thảm theo mô hình làng nghề. Giá trị sản xuất hàng năm đạt 3 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 2.000 lao động có thu nhập từ 8-10 triệu đồng/lao động/năm. Năm 2015 có thêm 1 làng nghề và 1 làng có nghề.

Tổ chức đào tạo nghề cho lĩnh vực TTCN hàng năm, khuyến khích các chương trình đào tạo ngắn hạn và truyền nghề cho người lao động trong các làng nghề. Đến 2015, người lao động trong các làng nghề được đào tạo nghề đạt từ 60-80%, các làng nghề thu hút và tạo việc làm thường xuyên cho 3,5 - 4 vạn lao động.

Tăng cường đầu tư và xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp, hạ tầng các làng nghề bằng nguồn hỗ trợ: Ngân sách của nhà nước, đầu tư của địa phương, doanh nghiệp và xã hội hoá phát triển làng nghề.

Để làng nghề phát triển đúng định hướng và đạt mục tiêu đề ra, cần phải có giải pháp phát triển đồng bộ từ làng nghề đến chính sách vĩ mô của Nhà nước, của tỉnh và sự quan tâm của chính quyền địa phương, cơ sở. Bản thân các cơ sở sản xuất ở các làng nghề phải biết liên kết lại với nhau để trở thành những cơ sở, doanh nghiệp mạnh ở ngay trong làng. Khi làm được điều này, làng nghề sẽ có lực để bước ra tìm hiểu thị trường và theo sát nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, chính sách vĩ mô để tạo điều kiện cho làng nghề phát triển lại đóng vai trò hết sức quan trọng bằng các giải pháp cụ thể như cơ chế thông thoáng, nguồn vốn dễ tiếp cận, hỗ trợ xúc tiến thương mại, đào tạo nghề, giúp đỡ các cơ sở TTCN, làng nghề giải quyết ô nhiễm môi trường,... thì các làng nghề mới phát triển đồng bộ được./.

                                                                             Nguyễn Văn Hiệp

                                  Phó phòng Quản lí Công nghiệp - Sở Công Thương

 

 

Các tin liên quan
Cơ hội đầu tư - kinh doanh
Thông kê truy cập
Số khách đang online: 363
Số lượt khách đã truy cập: 5160350

Cq chủ quản: Sở Công Thương Nghệ An

Thực hiện: Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại N An

Đc: 70 Nguyễn Thị Minh Khai, Vinh, Nghệ An

Tel: 038.3596628, Fax: 038.3596638,

Email: ntpcnghean@hn.vnn.vn

GP Số:113/GP-TTĐT Cục Phát thanh Truyền hình và TTĐT cấp ngày 09/6/2011.

Chịu trách nhiệm chính : Ô. Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc Trung tâm

Bản quyền:Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nghệ An

Nghe An Trade Promotion Centre (NTPC)